Theo quy định lâu nay, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trả theo mức của pháp luật lao động và trợ cấp thất nghiệp do cơ quan bảo hiểm chi trả không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Ngược lại, lương tháng cuối, tiền phép năm chưa nghỉ được thanh toán và khoản hỗ trợ thêm mà doanh nghiệp trả ngoài mức luật định theo thoả thuận chấm dứt hợp đồng thường được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công và chịu thuế.
Tách đúng từng khoản quan trọng vì nhiều người nhận một “gói nghỉ việc” gộp chung, thấy bị trừ thuế nhiều rồi nghĩ doanh nghiệp tính sai — hoặc ngược lại, nghĩ cả gói đều miễn thuế. Quy định chi tiết về thuế thu nhập cá nhân đã được hướng dẫn lại bởi Nghị định 253/2026/NĐ-CP và Thông tư 87/2026/TT-BTC từ 1/7/2026; bài này đi theo nguyên tắc lâu nay, trường hợp cụ thể nên đối chiếu văn bản hiện hành.
Bảng nhanh: khoản nào tính, khoản nào không
| Khoản | Ai trả | Tính thuế thu nhập cá nhân? (quy định lâu nay) |
|---|---|---|
| Lương những ngày làm việc tháng cuối | Doanh nghiệp | Có, như lương |
| Tiền lương cho ngày phép năm chưa nghỉ | Doanh nghiệp | Có, như lương |
| Thưởng, hoa hồng còn nợ | Doanh nghiệp | Có, như lương |
| Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo mức luật định | Doanh nghiệp | Không |
| Khoản hỗ trợ thêm theo thoả thuận, ngoài mức luật định | Doanh nghiệp | Thường có — xem bản chất |
| Trợ cấp thất nghiệp | Cơ quan bảo hiểm | Không |
| Bảo hiểm xã hội một lần | Cơ quan bảo hiểm | Không |
Nguyên tắc đứng sau bảng: khoản nào do luật bắt buộc trả để bù đắp việc mất việc hoặc do quỹ bảo hiểm chi thì không tính; khoản nào là tiền công cho công việc đã làm hoặc tiền doanh nghiệp tự nguyện trả thêm thì tính.
Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc theo luật
Pháp luật lao động quy định khi nào người lao động được trợ cấp thôi việc, khi nào được trợ cấp mất việc làm, và công thức tính theo thời gian làm việc, tiền lương bình quân. Phần tính đúng theo công thức luật định thì không tính vào thu nhập chịu thuế.
Hai điểm hay lẫn:
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp thường không được tính trợ cấp thôi việc, vì đã có chế độ bảo hiểm thất nghiệp bù đắp. Nếu doanh nghiệp vẫn trả cho cả khoảng thời gian này, phần đó không còn là trợ cấp theo luật.
- Doanh nghiệp gọi một khoản là “trợ cấp thôi việc” nhưng tính gấp nhiều lần công thức luật định thì phần vượt được xem xét như khoản hỗ trợ thêm.
Người lao động nên xin bảng tính chi tiết: bao nhiêu năm, lương bình quân bao nhiêu, phần nào theo luật, phần nào thêm.
Khoản hỗ trợ thêm theo thoả thuận
Khi doanh nghiệp tái cơ cấu, nhiều người nhận được khoản “hỗ trợ nghỉ việc”, “đền bù” theo thoả thuận chấm dứt hợp đồng, cao hơn mức luật định. Về thuế, phần này thường được coi là khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công và chịu thuế.
Ví dụ giả định: một người nhận gói nghỉ việc 120 triệu đồng, trong đó trợ cấp thôi việc theo công thức luật định 40 triệu đồng, phần còn lại 80 triệu đồng là hỗ trợ thêm. Phần 40 triệu đồng không tính thuế; phần 80 triệu đồng đưa vào thu nhập chịu thuế. Cách doanh nghiệp khấu trừ phần này tại thời điểm trả — theo biểu luỹ tiến của tháng trả hay theo tỷ lệ khác khi hợp đồng đã chấm dứt — tuỳ quy định hiện hành và thời điểm trả trước hay sau ngày nghỉ.
Người lao động nên yêu cầu thoả thuận chấm dứt ghi tách hai phần: trợ cấp theo luật và hỗ trợ thêm. Một con số gộp duy nhất khiến bộ phận tính lương khó tách, và người lao động cũng khó chứng minh phần nào không chịu thuế khi quyết toán.
Khoản bị khấu trừ lớn ở tháng nhận gói không phải là số thuế cuối cùng. Quyết toán năm sẽ cộng toàn bộ thu nhập, trừ giảm trừ bản thân mười hai tháng 15,5 triệu đồng/tháng, và thường cho kết quả được hoàn một phần nếu phần còn lại của năm không có thu nhập.
Lương tháng cuối, tiền phép chưa nghỉ, thưởng dở dang
- Lương những ngày làm việc tháng cuối: tính thuế như lương thường, có giảm trừ nếu người lao động vẫn đăng ký giảm trừ tại doanh nghiệp.
- Tiền phép năm chưa nghỉ được thanh toán bằng tiền: là tiền lương, tính thuế.
- Thưởng năm, hoa hồng doanh nghiệp còn nợ và trả sau khi nghỉ: vẫn là thu nhập từ tiền lương, tiền công; thời điểm tính là thời điểm trả.
Nếu các khoản này được trả sau khi người lao động đã sang làm nơi khác, cần để ý giảm trừ bản thân không bị tính hai lần trong cùng tháng: nơi làm mới đang trừ giảm trừ thì nơi cũ khấu trừ không tính giảm trừ. Mọi chênh lệch sẽ được xử lý ở quyết toán.
Bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội một lần
Trợ cấp thất nghiệp và bảo hiểm xã hội một lần do cơ quan bảo hiểm chi trả theo chế độ, không phải doanh nghiệp. Theo quy định lâu nay, đây là các khoản không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, và cũng không cần đưa vào tờ quyết toán.
Tuy vậy, nhận trợ cấp thất nghiệp có những nghĩa vụ riêng với cơ quan bảo hiểm và dịch vụ việc làm (thông báo tìm việc, báo khi có việc mới). Không làm đúng có thể bị dừng hưởng — đó là chuyện của chế độ bảo hiểm, không liên quan tới thuế, nhưng người nghỉ việc nên nắm để không mất quyền lợi.
Bảo hiểm xã hội một lần là lựa chọn có ảnh hưởng lâu dài tới lương hưu sau này. Quyết định nên dựa vào kế hoạch dài hạn, không nên chọn chỉ vì “khoản này không bị trừ thuế”.
Giấy tờ cần lấy trước khi rời công ty
- Bảng tính các khoản chi khi nghỉ việc: tách rõ lương, phép, thưởng, trợ cấp theo luật, hỗ trợ thêm.
- Chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cho thu nhập đã trả trong năm, gồm cả các khoản trả khi nghỉ.
- Quyết định hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động: cần cho hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp và để chứng minh bản chất khoản hỗ trợ.
- Xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và việc chốt sổ bảo hiểm.
- Thông tin người phụ thuộc đã đăng ký tại doanh nghiệp: để đăng ký lại ở nơi làm mới cho liền mạch.
Nếu đã có nơi làm mới, mang theo thông tin người phụ thuộc và báo nơi mới về các khoản còn được nơi cũ trả sau ngày nghỉ, để hai nơi không cùng trừ giảm trừ bản thân trong một tháng.
Xin tất cả trước ngày làm việc cuối cùng. Sau khi đã nghỉ, việc xin giấy tờ thường chậm hơn nhiều, nhất là ở doanh nghiệp đang tái cơ cấu.
Quyết toán năm có khoản nghỉ việc
Người nghỉ việc trong năm thường tự quyết toán, vì không còn làm việc tại doanh nghiệp vào thời điểm doanh nghiệp quyết toán thay theo quy định. Khi quyết toán:
- Cộng thu nhập chịu thuế từ tất cả nơi làm trong năm, không cộng trợ cấp thôi việc theo luật, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm xã hội một lần.
- Trừ giảm trừ bản thân đủ mười hai tháng và giảm trừ người phụ thuộc theo tháng được tính.
- So số thuế phải nộp cả năm với tổng số đã khấu trừ ở các nơi; thừa thì đề nghị hoàn, thiếu thì nộp thêm.
Các khoản thu nhập được miễn, không chịu thuế khác có tổng hợp tại mục thu nhập miễn thuế trên Miễn Thuế.
Tự kiểm tra ở đâu
- Ứng dụng thuế trên điện thoại: thu nhập doanh nghiệp cũ đã khai cho mình, gồm cả các khoản trả khi nghỉ; số đã khấu trừ.
- Ứng dụng bảo hiểm xã hội: quá trình đóng, việc chốt sổ, hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Bảng tính và chứng từ khấu trừ doanh nghiệp cấp: đối chiếu với số tiền thực nhận.
Câu hỏi thường gặp
Trợ cấp thôi việc có phải đưa vào tờ quyết toán không?
Phần trợ cấp thôi việc theo mức luật định không tính vào thu nhập chịu thuế theo quy định lâu nay, nên không cộng vào thu nhập tính thuế khi quyết toán. Phần doanh nghiệp trả vượt mức luật định thì cần xem bản chất.
Doanh nghiệp trừ thuế cả gói hỗ trợ nghỉ việc có đúng không?
Tuỳ cách tách các khoản. Xin bảng tính chi tiết; nếu phần trợ cấp theo luật cũng bị tính thuế, đề nghị doanh nghiệp điều chỉnh. Phần khấu trừ dư sẽ được xử lý khi quyết toán.
Nhận bảo hiểm thất nghiệp có làm mất giảm trừ gia cảnh không?
Không. Trợ cấp thất nghiệp không tính vào thu nhập chịu thuế; giảm trừ gia cảnh vẫn tính đủ khi quyết toán theo quy định.
Nghỉ việc tháng 10, tháng 12 có việc mới thì quyết toán thế nào?
Thường phải tự quyết toán vì có hai nơi trả thu nhập trong năm và không còn làm ở nơi cũ. Cần chứng từ khấu trừ của nơi cũ và số liệu của nơi mới.
Tiền phép năm chưa nghỉ có được miễn thuế không?
Không. Tiền thanh toán cho ngày phép chưa nghỉ là tiền lương, tính thuế như lương.
Người nghỉ việc theo diện cắt giảm lao động có được miễn thuế toàn bộ khoản nhận được không?
Không phải toàn bộ. Phần trợ cấp mất việc làm tính đúng theo luật không tính thuế; lương, tiền phép và phần hỗ trợ thêm ngoài mức luật định vẫn là thu nhập chịu thuế. Xin bảng tách từng khoản để kiểm tra.
Doanh nghiệp giải thể trả trợ cấp chậm, sang năm sau mới trả thì tính vào năm nào?
Khoản chịu thuế tính theo thời điểm trả. Phần trợ cấp theo luật không tính thuế dù trả năm nào; phần hỗ trợ thêm trả năm sau thì thuộc thu nhập năm sau.